Thế loại khác

CÁC SÁCH GIÁO HUẤN Bản dịch để học hỏi (viết tắt : KPB)  

Tác giả: Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm - Ngày 26/03/2016

CÁC SÁCH GIÁO HUẤN
Bản dịch để học hỏi (viết tắt : KPB)

Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ đang ở trong giai đoạn cuối trước khi có thể trình các cơ quan có thẩm quyền đạo cũng như đời để xin phép in. Để ngay từ bây giờ, độc giả quan tâm có thể có một ý niệm về bản dịch sẽ được ấn hành trong thời gian tới, chúng tôi phổ biến Lời nói đầu sau đây do một thành viên, chị Nguyễn Thị Sang trình bày. Tác giả sẽ đưa ra những nét chính cho thấy tinh thần của “bản dịch để học hỏi” có giá trị cho toàn bộ bản KPB, phần còn lại của bài viết là một số ví dụ cụ thể rút ra từ Các Sách Giáo Huấn.

Sài Gòn, ngày 25 tháng 03 năm 2016
Tm. Nhóm Phiên Dịch
CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ
Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
Thường trực Ban Điều Hành

LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi dành trên dưới 30 năm để thực hiện nhiều đợt và cuối cùng hoàn thành bản dịch toàn bộ Kinh Thánh để phục vụ rộng rãi cho mọi người, Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ chúng tôi đã bắt đầu một công trình mới : dịch cũng các sách Kinh Thánh ấy, nhưng chú trọng nhiều hơn đến cấu trúc văn chương của bản văn gốc, cũng như ngôn từ và ý hướng của tác giả.

Nếu mục đích công trình đầu tiên là giúp cho mọi tầng lớp dân Chúa có Sách Thánh trong tay để đọc và hiểu Lời Chúa trong ngôn ngữ của mình, như Công Đồng Va-ti-ca-nô II khuyên dạy, thì công trình kế tiếp này nhằm giúp các học viên nghiên cứu Kinh Thánh sâu rộng hơn, qua chính hai ngôn ngữ Híp-ri và Hy-lạp đã được các tác giả sử dụng để biên soạn.

Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trong Truyện một tâm hồn, đã từng viết : “Tôi mà làm linh mục, thì tôi đã học tiếng Híp-ri và Hy-lạp để có thể đọc lời Thiên Chúa dưới hình thức Người đã đoái thương diễn tả trong ngôn ngữ nhân loại.” Thánh nữ viết thế vì thời bấy giờ, phần đông Ki-tô hữu nghĩ rằng chỉ các giáo sĩ mới có khả năng hay nhiệm vụ đào sâu Kinh Thánh. Nhưng ngày nay, một số đáng kể linh mục và tu sĩ, cũng như nhiều học giả, cảm thấy có nhu cầu và hứng thú đào sâu tối đa kiến thức của mình về nhiều mặt, đặc biệt đối với các môn cổ ngữ nói chung và môn Kinh Thánh nói riêng.

Thật vậy, một khi đã yêu mến một tác giả nào đó rồi, đã được giới thiệu những tác phẩm có ý nghĩa nào đó rồi, thì người ta ước ao tiếp cận được, tìm hiểu sâu sắc hơn bản gốc những tác phẩm ấy với chính những từ ngữ được sử dụng. Ngoài ra, khi đọc và hiểu được tiếng gốc của một tác phẩm, độc giả tiếp cận được với một văn hóa mới, một lối suy tư và diễn đạt suy tư mới ... Ví dụ người nước ngoài mới học từ tiếng Việt “ăn Tết”, thì bình thường sẽ dịch thành “fêter/célébrer le Tết” cho tiếng Pháp hay “greetings” gì đó cho tiếng Anh ; nhưng nếu dịch sát chữ thì phải dịch thành “manger le Tết / eat the Tết”. Bấy giờ họ sẽ giật mình và bắt đầu suy nghĩ về chữ “ăn” trong một đất nước nghèo, thiếu ăn, về những nông dân sản xuất lúa gạo đầy đồng mà vẫn nghèo đói, thất học ..., đáng cho họ cất công tìm hiểu lịch sử người Việt cách sâu sát hơn. Có khi sẽ khám phá ra một văn hoá ẩm thực phong phú và một vốn từ vựng với những từ như ăn chơi, ăn mừng, ăn ở, ăn mặc, ăn nói ... Vậy bản dịch sát chữ nhiều chỗ có vẻ là ngây ngô, nhưng nó sẽ đưa đến chiều sâu những thực tại được nói tới.

Phần Các Sách Giáo Huấn, thì trong bản dịch này, ngoài niềm ao ước gắn bó với Thiên Chúa qua chính những từ ngữ chuyển đạt Lời của Người, độc giả còn có niềm vui khám phá được văn hoá, lịch sử của người Do-thái qua ngôn ngữ của họ là tiếng Híp-ri. Kiến thức của độc giả thêm phong phú khi tiếp cận với văn chương khôn ngoan trong Kinh Thánh. Nhiều khi phải ngỡ ngàng nhận thấy sự phối hợp cảm hứng của Thánh Thần với tài nghệ của các soạn giả Kinh Thánh thật kỳ diệu : các bản văn ấy vừa mang tính cách thần linh vừa mang bản sắc nhân loại rất đặc thù, mới mẻ.

Điểm nổi bật trong ngôn ngữ Híp-ri là cách nói rất cụ thể, mang tính tượng hình, đặc biệt là hình ảnh các bộ phận trong thân thể con người. Đơn cử một vài ví dụ. Để chỉ cơn giận dữ, lỗ mũi sắm vai chính (ngay cả khi nói về cơn giận của Thiên Chúa) : cái mũi nóng lên, bốc khói (G 32,2 ; Tv 74,1) ; được nâng mặt lên nghĩa là được ưu đãi, được nể vì (G 22,8 ; x. giữ thể diện, ngẩng đầu trong tiếng Việt) ; cánh tay của các cô nhi bị nghiền nát (G 22,9) có ý nói những phương thế bảo vệ quyền lợi các cô nhi bị huỷ bỏ ; và cụm từ Thiên Chúa ở nơi cao của các tầng trời (G 22,12) : so sánh với từ Bề Trên trong tiếng Việt chỉ (Ông) Trời trong lối nói dân gian, giữa những người không cùng tôn giáo, không tiện nói rõ Đấng mình thờ là ai. – Hình ảnh thiên nhiên cũng thường được dùng, như hạt giống, hoa quả chỉ dòng dõi, miêu duệ (Tv 21,11) ; những bước đi tắm trong sữa chua và dầu (G 29,6) có nghĩa cuộc sống trong cảnh sung túc – nói về cư dân những vùng chăn nuôi dê cừu và trồng cây ô-liu. – Về cấu trúc câu, để cường điệu một thực tại hay một động tác nào đó, thì động từ được danh từ (chỉ tác nhân) kèm theo, như nói bằng cái cổ (Tv 75,6) ; hoặc động từ được kèm bên danh từ cùng gốc, như ước gì chàng hôn ta từ những nụ hôn (Dc 1,2). Cụm từ Phù vân của những phù vân (Gv 1,2) nêu lên hai nét đặc thù trong văn chương Kinh Thánh : từ Híp-ri chỉ những gì không bền, không dính vào đâu, ví như mây trời, hoàn toàn tương ứng với từ Hán Việt phù vân ; còn lối nói phù vân của những phù vân, hay bài ca của những bài ca (Dc 1,1), được dùng để chỉ cấp cao nhất trong so sánh, hiểu là phù vân ở mức độ cực kỳ, bài ca tuyệt đỉnh.

Ngoài ra, bộ sách Giáo Huấn còn có đặc điểm này là giữa năm cuốn sách được viết bằng tiếng Híp-ri như phần lớn các sách trong Cựu Ước, có hai cuốn được viết bằng tiếng Hy-lạp : sách Khôn ngoan và sách Huấn ca (x. Phần Dẫn Nhập). Các tác giả hai cuốn này là người Do-thái viết cho người Do-thái. Họ là những di dân Do-thái đã hấp thụ và hội nhập văn hoá Hy-lạp rất thành công, nên tư tưởng của họ tuy vẫn tương hợp với Do-thái giáo, văn phong của họ lại thuần Hy-lạp. Do đó, các ngôn từ và cấu trúc câu được dùng để diễn đạt nền minh triết, khôn ngoan, đưa vào bộ sách thêm vài nét đặc thù của văn hoá Hy-lạp.

Đơn cử cái lều trong Kn 9,15 chỉ vật được dựng lên để rồi tháo dỡ, không trường tồn, gợi ý thời gian sống tạm bợ của con người, như minh triết dân gian Việt Nam nói “sống gửi thác về” ; cặp “thân xác – tâm trí” giữa các từ trờiđất (c. 16) có thể mang dáng dấp triết lý Hy-lạp, nhưng chỉ một phần thôi : thân xác không bị coi như cái tù giam hãm tâm trí, và cuối lời cầu nguyện, tác giả hoàn toàn trông cậy vào đức khôn ngoan Thiên Chúa ban cho (c. 18).

Nếu về mặt đức tin, bộ sách Giáo Huấn giúp độc giả hiểu thêm tương quan giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau, qua những bài thơ dễ ngân nga, dễ nhớ, thích hợp với văn hoá truyền khẩu của mọi thời, thì khi tìm hiểu sâu sát hơn các từ ngữ được dùng trong đó, độc giả còn được khám phá và thưởng thức một nền văn hoá thuộc một thời khác, rất xa xưa, và một phương trời khác, rất xa lạ. Thật vậy, mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa đâu phải là một mỹ từ cao xa, nhưng là cả một cuộc hội nhập của trời vào một thực thể của trái đất chúng ta. Trước thời điểm Ngôi Lời đến cắm lều giữa loài người –và để chuẩn bị cuộc giáng trần ấy–, Lời Thiên Chúa tự mặc khải mình cho dân Người đã không quản ngại dùng ngôn ngữ của một dân tộc thuộc nhân loại chúng ta.

Tm. Nhóm Phiên Dịch
CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ
Nguyễn Thị Sang


Không có bình luận.

Các bài viết khác

Thánh Giê-rô-ni-mô

Đóng góp trực tuyến

Nhận bài qua email